Thứ Tư, ngày 18 tháng 2 năm 2009

Quản lý Nhà nước về Gia đình và các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình

(Cinet) - Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc là trách nhiệm của toàn xã hội, của cơ quan quản lý nhà nước. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về gia đình là nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) về định hướng phát triển gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới.


1. Công tác quản lý nhà nước về gia đình

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi gia đình. Kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển và thực sự đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân hàng năm. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở cơ sở đã trở thành động lực để xây dựng các khu phố văn hóa, làng văn hóa, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Để có được thành tựu đó trước hết là sự nhận thức và quan tâm của Đảng và Nhà nước đến vai trò, vị trí của gia đình trong sự phát triển kinh tế xã hội. Thông qua hệ thống pháp luật và chính sách, Nhà nước ta đã đầu tư cho sự ổn định và phát triển gia đình. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp và chính sách hiện hành mới đáp ứng yêu cầu quản lý về mặt vĩ mô mà chưa đề cập nhiều tới việc quy định quyền và nghĩa vụ của gia đình và các thành viên trong gia đình. Nội dung và nhiệm vụ quản lý nhà nước về gia đình hiện nằm rải rác ở nhiều bộ, ngành, chưa có quy định cụ thể trách nhiệm và cơ chế phối hợp thực hiện. Có những nội dung đang là nhu cầu của gia đình và xã hội nhưng chưa được quan tâm, chưa phân công cho bộ ngành nào quản lý, điều hành. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, tập trung qui định những vấn đề trong hôn nhân, còn thiếu những qui định cụ thể về quyền và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình đối với nhau, giữa gia đình đối với các thành viên và cộng đồng.

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế một mặt tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế- xã hội cho đất nước, nhưng đồng thời cũng gây ra những khó khăn, thách thức cho gia đình và công tác quản lý gia đình. Mặt trái của cơ chế thị trường đã và sẽ tiếp tục tác động mạnh tới các giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của gia đình và văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Sự phân hoá giàu nghèo đang làm gia tăng khoảng cách về mức sống giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội khiến cho nhiều gia đình khó có thể thực hiện đầy đủ được các chức năng cơ bản của mình. Sự biến đổi sâu sắc phương thức quản lý kinh tế đã và đang tác động nhiều đến chức năng, quy mô và cấu trúc của gia đình, nhưng chưa được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm đúng mức.

Nhận thức được thực trạng trên, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm huy động sự nỗ lực của toàn xã hội, cộng đồng và từng cá nhân trong việc xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Ngày 21 tháng 02 năm 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 49/CT-TW về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngày 16 tháng 05 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê chuẩn Quyết định số 106/QĐ-TTg về Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010 và Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc lấy ngày 28/6 hàng năm làm Ngày Gia đình Việt Nam. Những văn bản pháp lý đó cùng với việc gắn chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về gia đình với quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch đã khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc củng cố, ổn định và phát triển gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình và dân tộc.

Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội. Vì vậy hệ thống pháp luật và chính sách trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới gia đình. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, vì vậy gia đình là đối tượng quản lý đặc thù của xã hội. Bản thân gia đình cũng có vai trò và trách nhiệm quản lý các thành viên của mình. Gia đình và cộng đồng là hai đối tượng luôn gắn với nhau trong suốt quá trình tồn tại, phát triển. Vì vậy, công tác quản lý nhà nước về gia đình đòi hỏi có sự phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, Bộ, ngành, tổ chức chính trị xã hội và sự phối hợp liên ngành chặt chẽ theo một cơ chế thống nhất.

Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về gia đình là nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) về định hướng phát triển gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”,(Văn kiện ĐH Đảng X).

Công tác quản lý nhà nước về gia đình của ngành văn hóa, thể thao và du lịch phải căn cứ vào các văn bản chỉ đạo hiện hành của Đảng và Nhà nước liên quan tới lĩnh vực gia đình.

Quản lý nhà nước về gia đình là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành, tồn tại, phát triển của gia đình và hành vi của các thành viên trong gia đình nhằm bảo đảm cho gia đình thực hiện đầy đủ các chức năng của mình và vận hành theo đúng mục tiêu, định hướng mà nhà nước mong muốn đạt đến.

Quản lý nhà nước về gia đình thực chất là việc thực thi luật pháp, chính sách và chương trình của nhà nước liên quan đến gia đình, là việc kết hợp hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân thông qua các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác định 5 nội dung quản lý nhà nước về gia đình của ngành. Vì vậy, công tác quản lý nhà nước về gia đình sẽ được xác định dựa trên chức năng quản lý nhà nước nói chung và những nội dung được quy định cụ thể trong Nghị định 185 nói riêng, bao gồm:

1. Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về gia đình và tổ chức thực hiện các văn bản đó.

Tổ chức triển khai Luật Phòng chống bạo lực gia đình theo nhiệm vụ đã được quy định trong Luật, Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật, các Nghị định hướng dẫn và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan; tổ chức tuyên truyền Luật bình đẳng giới và các văn bản dưới Luật có liên quan trong hệ thống ngành và các lồng ghép việc thực hiện những nội dung bình đẳng giới trong gia đình với các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình và cung cấp các kiến thức và kỹ năng sống cho các thành viên gia đình;tổ chức các hoạt động nhân Ngày Gia đình Việt Nam 28-6.

2. Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, chương trình phối hợp, các dự án, đề án, các công trình quan trọng liên quan đến xây dựng, củng cố, phát triển gia đình và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch, đề án đó.

Bên cạnh việc triển khai Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam ở các cấp theo Quyết định 106/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và việc xây dựng, triển khai các đề án, việc quy hoạch phát triển gia đình Việt Nam được định hướng theo tiêu chí gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, cần xây dựng các kế hoạch, đề án tổ chức tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, cách ứng xử trong gia đình truyền thống Việt Nam; cung cấp các kiến thức và kỹ năng sống cho các thành viên gia đình thông qua hoạt động giáo dục đời sống gia đình; giáo dục trước hôn nhân; thông qua các hình thức truyền thông, giáo dục và vận động trong gia đình, cộng đồng và xã hội phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và chọn lọc những giá trị mới của xã hội phát triển ; phối hợp xây dựng các văn bản như hương ước, quy ước, quy chế dân chủ cơ sở tại thôn/bản/xóm/ấp có những tiêu chí gia đình văn hoá, khu dân cư văn hóa và đề cao trách nhiệm của các thành viên gia đình.

3. Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các tiêu chuẩn, định mức, chế độ, hướng dẫn về xây dựng, củng cố phát triển gia đình; điều kiện thành lập, trình tự, thủ tục thành lập các cơ sở dịch vụ gia đình; các chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở dịch vụ gia đình.

4. Tổ chức, phối hợp liên ngành trong việc thực hiện công tác quản lý gia đình giữa các cơ quan nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức chính trị- xã hội, gia đình và cá nhân tham gia công tác gia đình.

5. Xây dựng, thử nghiệm, sơ kết, tổng kết thực tiễn và nhân rộng các mô hình xây dựng gia đình hoạt động có hiệu quả.

6. Kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng và xử lý vi phạm pháp luật về gia đình.

7. Quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp trực thuộc có liên quan đến lĩnh vực gia đình.

8. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát hoạt động của các hội, tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực gia đình theo quy định.

9. Phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình.

10. Thực hiện hợp tác quốc tế về gia đình.

11. Quản lý hướng dẫn nghiệp vụ về tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về gia đình; tổ chức, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác gia đình.

12. Tổ chức, quản lý công tác thu thập, công bố, khai thác lưu trữ thông tin số liệu về gia đình.

13. Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực gia đình.

14. Quản lý và định hướng các hoạt động dịch vụ công liên quan đến gia đình.

2. Các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình đã xảy ra ở khắp mọi vùng miền, mọi gia đình, bất kể sự khác nhau về tuổi, nghề nghiệp, dân tộc hay tôn giáo. Bạo lực gia đình là nguyên nhân chính làm tổn hại sức khỏe các thành viên trong gia đình, gây ra sự rạn nứt, tan vỡ gia đình và là sự vi phạm thô bạo quyền con người. Nhận thức rõ tác hại của vấn nạn này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình, và tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII, ngày 21/11/2007, đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Tại Điều 35, khoản 2 của Luật quy định:" Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình". Để thực hiện tốt công tác phòng, chống bạo lực gia đình, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

- Thứ nhất, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật và tổ chức tuyên truyền sâu rộng Luật và các văn bản dưới Luật trong cộng đồng dân cư, các Bộ, ngành, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức thành viên, tới từng gia đình, nhằm nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo và nhân dân về bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình;

- Thứ hai, đầu tư nguồn lực và phối hợp đẩy mạnh công tác truyền thông vận động nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi về phòng, chống bạo lực gia đình;

- Thứ ba, đầu tư đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ của ngành và các cơ quan liên quan về kiến thức, luật pháp, kỹ năng và quản lý, điều hành các các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình;

- Thứ tư, xây dựng và củng cố mô hình phòng, chống bạo lực gia đình ở cơ sở, phấn đấu đến năm 2015 có 30% số xã trên phạm vi toàn quốc xây dựng và duy trì mô hình hoạt động có hiệu quả;

- Thứ năm, lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Gia đình văn hóa, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa;

- Thứ sáu, xây dựng, thu thập số liệu, thông tin về bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình;

- Thứ bảy, xây dựng cơ sở tư vấn, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, phấn đấu đến năm 2015 có 20% địa phương có các loại hình này;

- Thứ tám, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình.

Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc là trách nhiệm của toàn xã hội, của cơ quan quản lý nhà nước, song trước hết là của từng gia đình và mỗi thành viên. Đứng trước những thách thức trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta trân trọng, gìn giữ những giá trị văn hóa gia đình chính là góp phần tôn vinh văn hóa dân tộc Việt Nam.

Ngô Thị Ngọc Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Gia đình

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Rất cám ơn bạn đã có ý kiến đóng góp cho chúng tôi.
Quản trị viên.