Thứ Tư, ngày 04 tháng 2 năm 2009

Sự lãnh đạo của Đảng CSVN trên lĩnh vực văn hóa

Nguyễn Quốc Tuấn

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng dẫn tới sự thành công. Thời gian qua đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam. Chúng ta đang tập trung vào phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nêu cao vai trò của văn hóa, giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ của xã hội đặt ra trong thời kỳ mới, khắc phục những yếu kém, bất cập của văn hóa truyền thống để bổ sung bằng việc xây dựng các giá trị văn hóa mới, tiếp thu những yếu tố tích cực của văn hóa nhân loại. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay là một yêu cầu khách quan trong sự phát triển kinh tế xã hội nói riêng và phát triển đất nước nói chung.

1. Bối cảnh tác động đến nền văn hóa Việt Nam

Đây là thời kỳ sắp xếp lại lực lượng của các quốc gia trên phạm vi toàn cầu, những mâu thuẫn giai cấp, dân tộc và tôn giáo diễn ra hết sức phức tạp; các quốc gia, các dân tộc vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để phát triển; xu thế hòa bình, ổn định và phát triển là xu thế chung của nhân loại tiến bộ. Hơn lúc nào hết việc phát huy sự tương đồng giữa các nền văn hóa để phát triển, khai thác lợi thế ổn định bên trong và xu thế hòa bình để phát triển đang tác động vào Việt Nam và văn hóa Việt Nam.

Đây là thời kỳ chuyển đổi của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ từ kiểu cũ sang kiểu mới hướng tới sinh thái và nhân văn hơn, trong đó công nghệ hóa kiểu cũ với những công nghệ gây ô nhiễm môi trường, bóc lột sức lao động của con người, điều kiện sống của con người không được quan tâm, làm cho đô thị hóa kiểu cũ tập trung đông dân vào các thành phố lớn, đang được chuyển sang công nghệ mới hướng tới sinh thái và nhân văn với các công nghệ cao và sạch, cho năng suất cao, không ảnh hưởng tới môi trường, cân bằng sinh thái. Các nước đi sau đang có lợi thế để đầu tư vào công nghệ mới và tập trung vào phát triển con người, hơn lúc nào hết cần tập trung vào 4 trụ cột chính: công nghệ gen và cải tạo giống cây trồng; công nghệ vật liệu mới với đầy đủ tính năng, tác dụng đáp ứng được yêu cầu dân sinh, quốc phòng, an ninh... (công nghệ siêu mỏng, siêu cứng, siêu bền); năng lượng: thu hút đầu tư vào những lĩnh vực năng lượng chiến lược (xăng - dầu, nguồn nước, sử dụng tài nguyên thiên nhiên...) để xây dựng chiến lược năng lượng quốc gia (từ nhiệt điện sang thủy điện và điện nguyên tử) và khoa học quản lý trong đó công nghệ thông tin chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, có thể giải quyết hàng loạt vấn đề (chính phủ điện tử, mua - bán qua mạng, đào tạo từ xa, chữa bệnh và quản lý qua mạng...) đòi hỏi quản lý phải biết xử lý thông tin và tạo ra thông tin mới để tiến tới tự động hóa trong quản lý xã hội, hình thành nền kinh tế tri thức (có trên 70% các ngành kinh tế có hàm lượng chất xám) và tương ứng với nó là xã hội thông tin. Thông tin đang trở thành sức mạnh, quyền lực (người nào nắm tri thức, người đó có quyền lực).

Sự chuyển biến trên đây đang làm cho thế giới thực được chia thành 2 thế giới mới (thế giới thực với những tồn tại khách quan và thế giới ảo qua mạng), làm cho các nước phải hợp tác với nhau để phát triển, để chia sẻ và chiếm lĩnh thông tin nhằm phát triển quốc gia của mình, dẫn tới việc chuẩn bị kiến thức khoa học, kỹ thuật cho công dân thông qua giáo dục - đào tạo (GD-ĐT). Đây là những vấn đề hết sức cần thiết khi mà tốc độ phát minh ngày càng gia tăng, khoảng cách giữa phát minh và ứng dụng được rút ngắn dần để có thể lựa chọn loại hình công nghệ thích ứng với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình.

Đây là thời kỳ mà xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đã và đang tác động rất lớn đến tất cả các lĩnh vực khác nhau ở các quốc gia khác nhau trên phạm vi toàn, là một xu thế khách quan của thời kỳ hiện đại. Toàn cầu hóa đang là sự tác động và ảnh hưởng chung của khu vực này đến khu vực khác trên phạm vi toàn thế giới, quốc tế hóa lực lượng sản xuất (Mác) và toàn cầu hóa để phát triển trên cơ sở phân công lao động quốc tế.

Trong những năm 1980, nhiều quốc gia đã đầu tư vào phát triển giao thông (huyết mạch của nền kinh tế và tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa) và sự bùng nổ thông tin, công nghệ cao sau thời kỳ chiến tranh lạnh đã làm cho việc tự do hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia ngày càng gia tăng, sự lưu thông kinh tế mở rộng, ra đời nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, chỉ một tác động nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng tới các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới.

Đánh giá vấn đề toàn cầu hóa sẽ có tác động tích cực đến sách phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia. Đây là cơ hội giúp cho mỗi nước trong việc chuyển giao công nghệ, làm cho kinh tế hoạt động theo quỹ đạo chung nếu không muốn loại mình ra khỏi cộng đồng thế giới. Nhưng quốc tế hóa cũng mang lại những tiêu cực to lớn như bần cùng hóa các nước nghèo và chậm phát triển, các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế thế giới không bình đẳng, các nước nghèo dễ bị đẩy ra ngoài cuộc chơi, sự phân hóa giàu nghèo gia tăng.

Đảng ta đã nhìn thấy tất cả những tiêu cực và tích cực của toàn cầu hóa để đưa ra đánh giá của mình: toàn cầu hóa là xu thế khách quan, tác động trên phạm vi toàn cầu, do vậy phải chủ động tham gia (87% kinh tế thế giới do các nước tư bản chủ nghĩa chi phối) và đấu tranh để xác lập các giá trị và chuẩn mực chung.

Về chính trị, toàn cầu hóa có thể san bằng mọi nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia đều có rào cản bảo vệ lợi ích của mình, có chính sách quản lý riêng (nhưng xu thế quyền lực có thể bị giảm đi) để từ đó điều chỉnh lại quan niệm cho đến cách điều hành để giữ vững độc lập và an ninh quốc gia.

Toàn cầu hóa tác động đến văn hóa và các phương tiện thông tin đại chúng, qua con đường nhập khẩu văn hóa phẩm, dịch vụ vui chơi giải trí (nhấn mạnh các cảm giác mạnh và lạ) làm cho xã hội hiện đại đang bị trơ lì cảm xúc, đòi hỏi giáo dục văn hóa phải làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình trong việc bảo tồn vị thế và văn hóa dân tộc. Mặt khác, toàn cầu hóa cũng làm thay đổi lối sống xã hội, xuất hiện khái niệm công dân toàn cầu, thay đổi về quan niệm, tín ngưỡng, tôn giáo và tâm linh, mang đến cả tích cực và tiêu cực, tác động đến văn hóa Việt Nam. Một câu hỏi được đặt ra: liệu có toàn cầu hóa về văn hóa được không? Xin trả lời ngay: toàn cầu hóa tác động vào các chủ thể tham gia, nhưng các chủ thể này gắn liền với các quốc gia, quyền lợi quốc gia và nền văn hóa của dân tộc, nên toàn cầu hóa về văn hóa là khó khăn và khó có thể xảy ra.

Đây là thời kỳ đất nước ta đang chuyển mạnh sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về phương diện văn hóa, kinh tế thị trường là tài sản, thành tựu của văn hóa nhân loại, muốn phát triển phải hòa nhập kinh tế và nhìn nhận lại mặt tích cực và tiêu cực của nó.

Ưu thế của kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường giải phóng các tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, về vốn, về khoa học công nghệ, về nguồn lực con người để làm đa dạng hóa và năng động hóa xã hội và nền kinh tế. Kinh tế thị trường còn là xu thế kinh tế tấn công, do quy luật cạnh tranh và quy luật cung - cầu quy định, do đó, rất năng động, là nền kinh tế quảng cáo khi hàng hóa mới luôn xuất hiện. Một mặt, kinh tế thị trường tạo ra quá trình dân chủ hóa về kinh tế, làm tiền đề cho dân chủ hóa về văn hóa - xã hội; mặt khác, vì phải chấp nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, do vậy, về mặt luật pháp và cơ chế, chính sách luôn bảo vệ cho sự bình đẳng của các thành phần, đồng thời đòi hỏi các thành phần kinh tế phải duy trì và xác định vai trò của mình trong quá trình chung. Kinh tế thị trường làm cho công dân tham gia và giám sát mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, quan tâm đến dư luận xã hội, đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, tham gia bảo quản và lưu giữ các giá trị văn hóa; kích thích năng lực sáng tạo của các cá nhân và của cả cộng đồng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, đòi hỏi các cấp lãnh đạo, quản lý theo kịp tiến trình phát triển của kinh tế thị trường.

Mặt trái của kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường làm phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, phân hóa giàu - nghèo, khu vực giàu - nghèo, quốc gia giàu - nghèo, gây ra nhiều rủi ro cho nền kinh tế, do vậy, các chính sách xã hội phải đảm bảo công bằng xã hội là một yêu cầu lớn đối với các nhà hoạch định chính sách. Kinh tế thị trường còn tạo ra sự suy thoái về lối sống và đạo đức xã hội (đặc biệt ở các nước mới mở cửa, do thiếu kinh nghiệm và chưa quen cách quản lý mới). Kinh tế thị trường luôn khai thác lợi ích, nên luôn mang trong mình nó cả tích cực và tiêu cực, làm biến dạng bản sắc văn hóa dân tộc (do mọi thứ đều được mua - bán, các sản phẩm văn hóa, các cổ vật... được bán ra nước ngoài). Vấn đề đặt ra cho văn hóa, giáo dục là cần chuẩn bị kỹ và đào tạo chu đáo nguồn nhân lực cho kinh tế thị trường - nhân tố thành công cho phát triển kinh tế xã hội - có đủ kiến thức, trình độ, ý chí và nghị lực, làm cho con người biết chấp nhận và vượt lên khó khăn, thách thức.

Kinh tế thị trường đã trải qua 2 giai đoạn: kinh tế thị trường dã man - tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá và kinh tế thị trường văn minh - chấp nhận tự do cạnh tranh trên cơ sở tôn trọng luật pháp và các giá trị văn hóa xã hội. Văn hóa phải làm bà đỡ cho kinh tế thị trường văn minh ra đời trên cơ sở xây dựng hệ thống định hướng và pháp luật cho xã hội, tạo ra môi trường lành mạnh cho phát triển văn hóa xã hội và kinh tế, hướng tới nền kinh tế nhân văn.

Đây là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệm hóa, hiện đại hóa theo hướng sinh thái và nhân văn. CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp hiện đại. Về văn hóa, chúng ta đang ở thời kỳ văn hóa tiền công nghiệp sang văn hóa công nghiệp trong đó vai trò kinh nghiệm chiếm vị trí lớn. Khi chuyển sang văn minh công nghiệp thì tư duy khoa học phải chiếm vị trí hàng đầu, đòi hỏi phải phát triển khoa học cho con người trong cộng đồng. Do vậy cần phải đầu tư thích đáng vào văn hóa, giáo dục để tạo ra con người mới, nguồn nhân lực mới cho xã hội công nghiệp.

Quá trình CNH, HĐH không chỉ là quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động và phân công lao động xã hội, không chỉ là quá trình thay thế về khoa học công nghệ mà còn là quá trình chuyển đổi tư duy, lối sống, tác phong của dân tộc (từ quán tính quản lý làng - xã chuyển sang quản lý công nghiệp vốn gây cản trở không ít cho tốc độ phát triển) cho phù hợp với sự phát triển của xã hội công nghiệp hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây cũng là nhiệm vụ cốt lõi của văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Đây là thời kỳ chống các nguy cơ cản trở sự nghiệp đổi mới. Đó là các nguy cơ tụt hậu, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ bùng phát các tệ nạn xã hội (tham ô, tham nhũng, lợi dụng kẽ hở của luật pháp để làm giàu bất chính, suy thoái đạo đức, lối sống...) và nguy cơ diễn biến hòa bình.

Có thể nói, sự tác động của thời đại và bối cảnh dân tộc làm cho nền văn hóa chuyển đổi một cách sâu sắc: tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, phát huy nhân tố tích cực, loại bỏ nhân tố tiêu cực, tạo ra những giá trị văn hóa mới để giải quyết những xung đột trong hệ chuẩn mực xã hội cũ và mới (đạo đức xã hội, tình yêu, hôn nhân, giới tính...). Văn hóa và quản lý văn hóa phải được thang định chuẩn và thước đo giá trị mới đánh giá, kiểm định trên cơ sở kiên trì mục tiêu XHCN lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng phát triển và làm biểu tượng cho sự phát triển kinh tế xã hội.

2. Các giải pháp bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với văn hóa

Một là, cần quán triệt sâu sắc 5 quan điểm, 10 nội dung và 4 giải pháp của Đảng tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Kết luận Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 10 (khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) trong thời gian tới.

Hai là, các cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý về văn hóa, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội phải thực hiện đầy đủ, đồng bộ một số giải pháp quan trọng, có chủ trương và ban hành sớm các chính sách thống nhất trong phạm vi cả nước về phát triển văn hóa nhằm khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước, phát triển mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để phát triển văn hóa, văn nghệ và giáo dục trong giai đoạn hiện nay; Đảm bảo những điều kiện để văn hóa văn nghệ làm tốt vai trò xã hội và chức năng cao cả của nó; Thực hiện đầy đủ quyền tác giả, các chế độ thù lao nghệ thuật, bảo đảm cho các nghệ sĩ chuyên nghiệp và cán bộ quản lý có thể sống, làm việc và tiếp tục sáng tạo; Kiểm soát được các chương trình biểu diễn nghệ thuật để thu nhập giữa người sáng tác và người biểu diễn không chênh lệch quá nhiều, kiểm soát được các show biểu diễn thông qua cấp phép hành nghề để thu thuế thu nhập và tránh tình trạng diễn viên ra nước ngoài biểu diễn ở lại và nói xấu nền văn hóa dân tộc, nói xấu chế độ; Khuyến khích và thể nghiệm các sáng tạo các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu diễn nhưng không buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; Trân trọng nhân cách, tài năng, sự độc đáo của văn hóa các dân tộc thiểu số, tinh hoa văn hóa của nhân loại, tôn trọng các nền văn hóa khác, tôn trọng văn nghệ sĩ, chu đáo, tế nhị, chân tình trong quan hệ đối xử, có cách làm việc thích hợp với từng cá tính sáng tạo...

N.Q.T

Nguồn: http://vanhoanghethuat.org.vn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Rất cám ơn bạn đã có ý kiến đóng góp cho chúng tôi.
Quản trị viên.